Microsoft Word - Tin qui 1-2020-SVPD

Rạn san hô: Đâu chỉ có san hô và sinh vật đáy lớn

Làm khoa học đâu chỉ trong một ngày!

Nghiên cứu tác động của con người đến rạn san hô

Các nhà khoa học của phòng Sinh vật Phù du Biển đã phối hợp với Trung tâm Địa Di truyền học, Đại học Copenhagen (Đan Mạch) khảo sát vi sinh vật trong rạn san hô vịnh Nha Trang và Cà Ná trong tháng 4 năm 2015.

Nhiều chuyến khảo sát dưới nước đã được thực hiện.

Các nghiên cứu nhằm tìm hiểu nhiều vấn đề, trong đó có tập trung đến các đặc trưng di truyền của san hô trong những điều kiện nhiệt độ và ánh sáng khác nhau, các vi sinh vật liên quan đến bệnh của san hô và các vector chuyển tải mầm bệnh.

Hàng trăm mẫu vật đã được thu thập và hàng trăm mẫu thí nghiệm đã được lưu giữ và phân tích. Quá trình phân tích mẫu và số liệu có thể diễn ra nhiều năm. Trong công bố mới nhất của chúng tôi, một phẩn dữ liệu thu được từ san hô Porites đã được phân tích và chứng minh rằng vùng mô bị bệnh có số lượng vi sinh vật cao hơn (kém đa dạng di truyền của vi sinh vật), có tính ổn định cao và có thể được dùng làm chỉ thị sinh học cho san hô đang bị stress.

Có thể tìm đọc bài báo “Increased Bacterial Richness Associated With Lesions Within the Porites spp. of Viet nam” tại Front. Ecol. Evol., 27 May 2020 https://doi.org/10.3389/fevo.2020.00151  .

Vùng san hô bị bệnh và không bị bệnh trên cùng 1 tập đoàn (ảnh trích từ bài báo)

Ảnh hưởng của các điều kiện môi trường đến đặc trưng di truyền của san hô Galaxea

Ở một nghiên cứu khác, một phần tập đoàn san hô Galaxea được tách và nuôi trong các điều kiện môi trường khác nhau để xem xét sự biến đổi các đặc trưng di truyền của loài này.

book

Publication 2017

Tạp chí SCI/SCIE

  1. Gusev, E. S., Doan-Nhu, H., & Nguyen-Ngoc, L. (2017). Silica-scaled chrysophytes from Cat Tien National Park (Dong Nai Province, Vietnam). Nova Hedwigia. 105 (3-4): 347 – 364. doi.org/10.1127/nova_hedwigia/2017/0416. SCI
  2. Phan‐Tan, L., Nguyen‐Ngoc, L., Doan‐Nhu, H., Raine, R., & Larsen, J. (2017). Species diversity of Protoperidinium Oceanica (Dinophyceae, Peridiniales) in Vietnamese waters, with description of the new species P. larsenii sp. nov. Nordic Journal of Botany, 35(2), 129-146. Doi: 10.1111/njb.01230. SCI
  3. Loick-Wilde, N., Bombar, D., Doan, H. N., Nguyen, L. N., Nguyen-Thi, A. M., Voss, M., & Dippner, J. W. (2017). Microplankton biomass and diversity in the Vietnamese upwelling area during SW monsoon under normal conditions and after an ENSO event. Progress in Oceanography, 153, 1-15. doi.org/10.1016/j.pocean.2017.04.007. SCI
  4. Pisapia, F., Holland, W.C., Hardison, D.R., Litaker, R.W., Fraga, S., Nishimura, T., Adachi, M., Nguyen-Ngoc, L., Séchet, V., Amzil, Z. and Herrenknecht, C. and P. Hess, 2017. Toxicity screening of 13 Gambierdiscus strains using neuro-2a and erythrocyte lysis bioassays. Harmful Algae, 63, pp.173-183. SCIE
  5. Amid, C., Olstedt, M., Gunnarsson, J.S., Le Lan, H., Minh, H.T.T., Van den Brink, P.J., Hellström, M. and Tedengren, M., 2017. Additive effects of the herbicide glyphosate and elevated temperature on the branched coral Acropora formosa in Nha Trang, Vietnam. Environmental Science and Pollution Research, pp.1-13. SCI
  6. Nguyen X.-V., -H. Tran, J. Papenbrock, (2017). Different organs of Enhalus acoroides (Hydrocharitaceae) can serve as specific bioindicators for sediment contaminated with different heavy metals, In South African Journal of Botany, 113: 389-395, ISSN 0254-6299, https://doi.org/10.1016/j.sajb.2017.09.018. SCIE

Tạp chí Quốc tế có chỉ số ISSN

  1. Doan-Nhu H., Nguyen-Ngoc, and M.S. Bui, (2017) Unusual fish killing blooms of Tripos furca in Van Phong Bay, South Viet Nam. Harmful Algae News, An IOC Newsletter on Toxic Algae and Algal Blooms, 57: 1-3. ISSN: 1020-2706. ISI – Zoological record

Tạp chí quốc gia

  1. Phan Tan Luom, Nguyen Ngoc Lam, Doan Nhu Hai, 2017. Cysts of the genus Protoperidinium species in sediments from coastal waters of Phu Yen, Khanh Hoa and Ninh Thuan provinces, South central Viet Nam. Tap Chi Sinh Hoc 39 (1): 32-39. DOI: 10.15625/0866-7160/v39n1.8403
  2. Vo Van Quang, Doan Nhu Hai, Nguyen Ngoc Lam, 2016 Effects of variations of environmental factors and algal bloom on fish larvae in Southern central Vietnam. Tap Chi Sinh Hoc 38 (4): 458-466. DOI: 10.15625/0866-7160/v38n4.8888.
  3. Vũ Văn Tác, Đoàn Như Hải, Tống Phước Hoàng Sơn, Ngô Mạnh Tiến, Nguyễn Hoàng Thái Khang, Phan Quảng, 2017. Bất thường của nhiệt độ nước tầng mặt tại vùng biển Nam Trung Bộ Việt Nam liên quan đến hiện tượng ENSO. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển 17(2): 111-120. DOI: 10.15625/1859-3097/17/2/10153.
  4. Nguyễn Lương Tùng, Phan Tấn Lượm, Nguyễn Thị Tường Vi, (2017). Thành phần loài và mật độ của chi Protoperidinium (dinoflagellate) ở vùng biển Côn Đảo, Bà Rịa – Vũng Tàu. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng 1(110):131-135. ISSN 1859-1531.

Sách chuyên khảo

Doan Nhu Hai. 2017. Haptophytes in Vietnamese Waters. NXB KHTN & CN, VAST. 289 pp. ISBN: 978-604-913-857-3.

Untitled-2

Phát hiện loài mới Protoperidinium smithii H. Doan-Nhu, L. Phan-Tan et L. Nguyen-Ngoc, 2018

Trong chuyến khảo sát Nam cực của tàu  RVIB Nathaniel B. Palmer từ ngày 24 tháng 12 năm 2011 đến ngày 10 tháng 2 năm 2012 do Quỹ Nghiên cứu Khoa học – Hoa Kỳ (NSF-US) tài trợ. GS.TS. Đoàn Như Hải đã cùng với GS.TS. Walker Smith (Viện Khoa học biển Virginia- VIMS) nghiên cứu vai trò của sắt (Fe) liên quan đến sự nở hoa của vi tảo sợi bám Phaeocystis và cấu trúc quần xã thực vật phù du trong vùng biển Ross (Nam cực). Qua phân tích các mẫu vật, các nhà khoa học của phòng Sinh vật Phù du Biển, Viện Hải dương học (Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam) đã phát hiện một loài tảo mới trong chi tảo Hai roi – Protoperidinium với tên khoa học là  Protoperidinium smithii H. Doan-Nhu, L. Phan-Tan et L. Nguyen-Ngoc, 2018.

Loài mới này có kích thước nhỏ, thân tế bào dạng hình quả lê không cân đối với phần vỏ trên dài hơn. Chiều dài tế bào 45,1 ± 5,1 µm, đường kính 19,2 ± 3,2 µm và chiều sâu 16,6 ± 1,4 µm. Sừng vỏ trên ngắn và hơi nghiêng về bên phải. Tấm 1’ đặc trưng hình chữ S. Tấm 6” rất rộng. Vỏ dưới ngắn và không cân đối với 2 gai phân kỳ. Bề mặt vỏ trơn nhẵn với các lỗ có kích thước khác nhau. Các lỗ đều có vành xung quanh. Loài P. smithii được tìm thấy ở hầu hết các trạm khảo sát và có phân bố đến độ sâu 100m và phong phú hơn ở khu vực có nhiệt độ cao hơn (-1,58 – +1,93oC), độ muối thấp hơn (33,13-34,18), và ở nơi có hàm lượng chlorophyll-a cao (4,7 – 26,1 µgL-1) so với các vùng khác trong biển Ross.

Thông tin chi tiết về các phát hiện mới này có thể tìm thấy trên tạp chí: Polar Biology 41: 983-992.

Cùng trong bài báo này, các tác giả đã mô tả bổ sung các đặc trưng hình thái của loài Protoperidinium defectum (Balech 1965) Balech 1974 có nguồn gốc từ Nam Cực được phát hiện năm 1965.

Người đưa tin: GS.TS.Nguyễn Ngọc Lâm, Viện Hải dương học

FK160602-NetDeployment_15062016_Naranjo-1-1140x760

Hợp tác về khoa học biển giữa Việt Nam và Hoa Kỳ – Chuyến khảo sát của tàu FALKOR

Trong khuôn khổ hợp tác khoa học giữa Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Khoa học Công nghệ Georgia (Atlanta, Georgia, Hoa Kỳ), được sự ủng hộ của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các nhà khoa học của Việt Nam và Hoa Kỳ đã cùng nhau tham gia chuyến khảo sát “Động học dinh dưỡng và Sinh vật phù du dưới tác động sinh-địa-hóa của dòng vật chất từ sông Mekong” trên tàu FALKOR (Viện Hải dương học Schmidt, Hoa Kỳ) từ ngày 3/6/2016, dự kiến kết thúc hành trình khảo sát vào ngày 20/6/2016.

Phạm vi khảo sát bao gồm 30 trạm từ Khánh Hòa cho đến vùng cửa sông Mekong. Tham gia đoàn khoa học có GS. Joseph Montoya (Viện KHCN Gerorgia) là Khoa học trưởng, các nhà Khoa học chủ chốt là TS. Maren Voss (Viện Nghiên cứu biển Baltich, IOW), TS. Ajit Subramaniam (Trường Đại học Columbia), TS. Annalisa Bracco (Viện KHCN Gerorgia). Phía Việt Nam, Viện Hải dương học có GS.TS. Nguyễn Ngọc Lâm, PGS.TS. Đoàn Như Hải, Ông Nguyễn Chí Thời và Ông Nguyễn Tâm Vinh. Tổng cộng đoàn khoa học có 16 người. Phía Việt Nam chịu trách nhiệm chính về mảng Sinh vật phù du và một số nội dung về vi lưới thức ăn.

Mỗi ngày các nhà khoa học khảo sát 1 trạm, thu mẫu vào lúc sáng và lặp lại vào lúc chiều tối; thời gian giữa 2 lần thu mẫu là đo đạc, chia tách mẫu vật, và tiến hành thực nghiệm mesocosm ngay trên tàu. Cứ từ 2-3 ngày, Khoa học trưởng sẽ tổ chức seminar để các nhà khoa học thảo luận về công việc, cùng với những những phát hiện mới trong quá trình khảo sát.

Các số liệu từ Rosette – CTD và tình trạng của tàu FALKOR được tự động cập nhật 5 phút một lần. Các nhà khoa học có thể tạo 1 diễn đàn trong network để trao đổi thông tin chung và cá nhân. Cô Mónika Gozález (Trường Đại học Costa Rica) phụ trách truyền thông của chuyến khảo sát này. Các thông tin về hoạt động khoa học có thể tham khảo tại trang web: http://schmidtocean.org/cruise-log-post/the-big-picture/

Một số hình ảnh hoạt động khoa học trên tàu FALKOR:

khaosattrentaufalcor
Hướng dẫn vận hành tời

khaosattrentaufalcor1

Thu mẫu Sinh vật phù du

khaosattrentaufalcor2

Khảo sát nhanh các mẫu vật Thực vật phù du (Ảnh của Philip Guenther, FALKOR)

khaosattrentaufalcor3

GS.TS. Nguyễn Ngọc Lâm báo cáo về Thực vật phù du trong buổi sinh hoạt học thuật trên tàu (Ảnh của Philip Guenther, FALKOR)

Đưa tin từ tàu FALKOR, ngày 14/6/2016
Người đưa tin: GS. TS. Nguyễn Ngọc Lâm, Viện hải dương học

Xử lý tin: Mai Lan

1 (2)

Nghiên cứu tảo nở hoa

NGHIÊN CỨU TẢO NỞ HOA

THÁNG 04/2017

NỞ HOA CỦA TẢO TRÊN ĐÈO HẢI VÂN (Ảnh – anhtuan85) In This Issue: nghiên cứu tảo nở hoa

[infobox]

Nghiên cứu tảo nở hoa có khả năng gây hại ở vịnh Vân Phong

Đoàn N.H.

[/infobox]

[row]

[column size='1/3' ]

[caption id="attachment_529" align="aligncenter" width="574"] Một trong những tàu tham gia khảo sát vịnh Vân Phong. Ảnh – ĐNH[/caption]

Trong tháng 4 năm 2017, đoàn khảo sát của viên Hải Dương học từ các phòng chuyên môn: Vật lý biển, Thủy – địa hóa, Sinh thái biển, Trung tâm Dữ liệu và Viễn thám – GIS và phòng Sinh vật phù du đã có một khảo sát toàn diện nhiều lĩnh vực trong vịnh Vân Phong. Chuyến khảo sát này là một trong các hoạt động của nhiệm vụ khoa học tỉnh Khánh Hòa đã chỉ định Viện Hải Dương học chủ trì và phòng Sinh vật Phù du là đơn vị thực hiện, là: Điều tra, đánh giá hiện tượng nở hoa của vi tảo và xác định nguyên nhân gây chết của đối tượng thủy sinh trong vịnh Vân Phong; đề xuất các biện pháp phòng ngừa [/column]

[column size='1/3']Mười bốn nhà khoa học đã tham gia thực địa khảo sát mặt rộng tại 17 trạm và 4 trạm liên tục. Các thông số đo đạc thực địa sẽ góp phần đánh giá cơ bản hiện trạng đa dạng sinh vật phù du, khảo sát tình trạng ưu dưỡng và các điều kiện thủy lý – hóa có khả năng kích thích nở hoa, hiện trạng trao đổi nước và đặc trưng hóa học trầm tích, …. Ngoài ra, hàng trăm mẫu vật và hàng nghìn số liệu đã được thu thập để phân tích và phục vụ các chuyên đề khoa học chuyên sâu, làm cơ sở khoa học cho những giải pháp cơ bản của nhiệm vụ khoa học này.

Vì sao phải nghiên cứu tảo nở hoa trong vịnh Vân Phong?

[caption id="attachment_533" align="aligncenter" width="594"] Một phần của lượng mẫu thu thập được trong chuyến khảo sát. Ảnh – ĐNH[/caption]

Trong tháng 10 và 11 năm 2016, đã xảy ra hàng loại các vụ cá chết ở các lồng nuôi hải sản ở vịnh Vân Phong. Đồng thời, cá tự nhiên chết ở khu vực đỉnh vịnh và Vạn Giã cũng được người dân báo. [/column]

[column size='1/3']Khảo sát của phòng Sinh vật phù du, Viện Hải Dương học, đã cho thấy có hiện tượng nở hoa của tảo hai roi Ceratium furca và loài này có thể là nguyên nhân chính gây chết sinh vật nuôi. Tuy vậy, nhiều khía cạnh nghiên cứu khác nhau cũng cần được thực hiện nhằm làm rõ nguyên nhân và tìm biện pháp bảo vệ sinh vật trong vịnh

[caption id="attachment_535" align="aligncenter" width="490"] Hình ảnh cá bớp chết, ảnh do doanh nghiệp nuôi cá lồng cung cấp.[/caption]

Có nhiều nguyên nhân làm sinh vật thủy sinh chết hàng loạt trong đó có cả nở hoa của tảo gây hại. Điều kiện nở hoa và cơ chế gây chết có thể khác nhau tùy loài tảo. Vì vậy, để giảm thiểu tác động gây hại thì ở bất cứ quốc gia nào một chương trình giám sát cần được thiết lập.

[/column]

[/row]