Fig1_ZooplanktonCollection_AMT22_L

Seasonal and spatial distribution of mesozooplankton in a tropical estuary, Nha Phu, South Central Viet Nam

Seasonal and spatial distribution of mesozooplankton in a tropical estuary, Nha Phu, South Central Viet Nam

Authors
Trinh Si-Hai Truong Cho Nguyen
Nguyen-Ngoc Lam
K. Thomas Jensen
Section Zoology

First Online: 15 November 2013
DOI: 10.2478/s11756-013-0289-9

Cite this article as:
Truong, T.SH., Nguyen, C., Lam, NN. et al. Biologia (2014) 69: 80. doi:10.2478/s11756-013-0289-9
Abstract
This study provides a description of mesozooplankton (holo- and meroplankton) abundance, biomass and diversity patterns inside and outside a tropical estuary (Nha Phu Estuary, Khanh Hoa, Viet Nam). In total 185 zooplankton species have been recorded during the study period (2009–2010), copepods contribute with the largest share of species (more than 100), Tunicata with 20, Cnidaria with 17 and Chaetognatha with 9 species. At the most species rich site the number of zooplankton species varies between 55 and 123. The number of species and the annual variation in numbers declines towards the head of the estuary (14–37 species). In contrast, the highest numbers of individuals occur in the inner part of NPE. Calanoids that are the most abundant group of the copepods occur in densities up to 28.2 ind. L−1 (Aug. 9). At ‘Outer NPE’ and ‘Outside NPE’ the maximum density of calanoids is 5.8 and 10.7 ind. L−1, respectively. The declining diversity of zooplankton towards the head of the estuary is also supported by various indices (Shannon’s index, Margalef’s index). A cluster analysis on similarity of species supports a clustering of the inner NPE sites vs the other sites. There is a general separation between the dominant copepod species in the inner (Bestiola sp., Acartia pacifica, Pseudodiaptomus incisus) and outer (Paracalanus gracilis, Acrocalanus gibber, Subeucalanus subcrassus, Oithona rigida, Corycaeus andrewsi, Oithona plumifera) part of the estuary though a few species are common in both areas (Paracalanus crassirostris and Euterpina acutifrons). The zooplankton community at the inner NPE is subjected to more variable hydrographic conditions (salinity in particular) than the communities at the other sites where more stable conditions prevail. A short residence time in the inner part of the estuary due to the tide is supposed to impede a strong horizontal structuring of the zooplankton community.
Key words
abundance biomass mesozooplankton tropical ria Nha Phu Estuary
Full text: Click here
biendong_recifacropora_pulchra

Diễn đàn – Hội nghị Khoa học Quốc tế “Biển Đông 2017”

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN HẢI DƯƠNG HỌC
————-
95 năm nghiên cứu khoa học biển (1922 – 2017)
Diễn đàn – Hội nghị Khoa học Quốc tế
“Biển Đông 2017”

KHOA HỌC VÌ SỰ TĂNG TRƯỞNG XANH Ở BIỂN ĐÔNG

 
Biển Đông là một trong những vùng biển có đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới, có nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng và là một vùng biển có ý nghĩa địa chính trị vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, hiện nay Biển Đông đang đối mặt với những thách thức lớn, xuyên biên giới về môi trường và tài nguyên biển, không chỉ tác động đến vùng ven bờ mà cả vùng biển khơi. Vì vậy, các vấn đề trên đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của không chỉ các nước xung quanh Biển Đông, những quốc gia phụ thuộc lớn vào nguồn lợi tự nhiên của vùng biển này, mà còn cả của các nước trong khu vực khác trên thế giới.
Trong suốt 95 năm hình thành và phát triển, hợp tác nghiên cứu khoa học cùng các đối tác trong và ngoài nước, Viện Hải dương học đã tiến hành hàng loạt nghiên cứu khảo sát, thu được những kiến thức khoa học to lớn về Biển Đông, góp phần đáng kể vào sự phát triển bền vững kinh tế biển và bảo tồn đa dạng sinh học và môi trường Biển Đông.
Hội nghị Khoa học Biển Đông được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2000, lần thứ hai vào năm 2002, và sau đó lặp lại mỗi năm năm, là cơ hội để chúng ta nhìn lại các hoạt động nghiên cứu khoa học trên vùng biển Việt Nam và lân cận, là nơi để các nhà khoa học và quản lý gặp gỡ, trao đổi, thảo luận về các lĩnh vực khoa học biển và các vấn đề môi trường đang được quan tâm, và tăng cường hợp tác tương lai trong lĩnh vực khoa học biển trong khu vực. Cùng với sự phát triển của khoa học biển trong giai đoạn hội nhập quốc tế, từ 2007, Hội nghị Biển Đông được mở rộng hơn tới các nhà khoa học và quản lý quốc tế.
Nhân dịp kỷ niệm 95 năm ngày thành lập (14/9/1922 – 14/9/2017), Viện Hải dương học sẽ tổ chức Diễn đàn-Hội nghị Khoa học Quốc tế “Biển Đông 2017: Khoa học vì sự tăng trưởng xanh ở Biển Đông”, nhằm tổng kết các kết quả và thành tựu nghiên cứu khoa học về Biển Đông trong 05 năm qua, nâng cao kiến thức về khoa học biển và tăng cường hợp tác quốc tế hướng tới phát triển kinh tế biển xanh trong khu vực.
Anhso1[1]

Đề Tài KC 09.03/06-10

Đề Tài KC 09.03/06-10: Nghiên cứu quá trình phát sinh thuỷ triều đỏ và sinh thái phát triển của các loài tảo độc hại ở một số vùng ven bờ đặc trưng và ảnh hưởng của chúng tới nguồn lợi hải sản.

Chủ nhiệm đề tài:
TS. Nguyễn Ngọc Lâm
Phòng Sinh vật phù du Biển
Viện Hải dương học
Tel: (058) 590 476-222 ; Fax: (058) 590 591; E-mail: [email protected]

Thời gian thực hiện: Từ tháng 4/2007 đến tháng 12/2009
Mục tiêu của đề tài:

  • Xác định được các đặc điểm phát sinh và lan truyền của hiện tượng thuỷ triều đỏ và các loài tảo độc hại ở một số vùng ven bờ đặc trưng;
  • Đánh giá được khả năng ảnh hưởng của các loài tảo độc hại tới nguồn lợi hải sản nuôi trồng và sinh thái phát triển của một số loài vi tảo có khả năng gây bùng phát thuỷ triều đỏ;
  • Đề xuất cho các cơ quan quản lý cụ thể các giải pháp quản lý, giám sát tảo độc hại trong môi trường tự nhiên và các vùng nuôi trồng thuỷ sản ven bờ, góp phần bảo vệ nguồn lợi hải sản và sức khoẻ cộng đồng.

Nội dung nhiệm vụ:

I. Các nội dung đã nghiên cứu và cần có điều tra bổ sung

Tổng quan các tài liệu lịch sử về các sự kiện tảo nở hoa hay Thủy triều đỏ và phân bố các loài vi tảo có khả năng sản sinh độc tố trong các thủy vực Việt Nam. Bao gồm 4 báo cáo chuyên đề
Hoàn chỉnh danh mục và mô tả chi tiết thành phần loài và sinh thái phân bố tự nhiên của các loài Tảo độc hại (bao gồm các loài sống nổi và sống đáy). Bao gồm 4 báo cáo chuyên đề

II. Các nội dung mới và quan trọng
Các điều kiện sinh học-hóa học-vật lý hải dương học liên quan tới quá trình phát sinh, phát triển của chúng tại các vùng nghiên cứu trọng điểm Ninh Thuận-Bình Thuận (số liệu lịch sử, dữ liệu ảnh vệ tinh và tư liệu mới của đề tài), làm cơ sở xây dựng mô hình phát triển của vi tảo và cảnh báo sớm (early warning) sự nở hoa (hay thủy triều đỏ).
Thử thiết kế thực nghiệm mesocosm xem xét vai trò của muối dinh dưỡng đến sự hình thành sự nở hoa làm cơ sở xây dựng mô hình dự báo.
Đánh giá được khả năng ảnh hưởng của tảo độc hại đến nguồn lợi hải sản không xương sống (invertebrates)
Sinh thái phát triển (autecology, chú ý đến sinh học phát triển quần thể và sản sinh độc tố) của một số loài vi tảo có khả năng sản sinh độc tố (ít nhất 20 trên tổng số 70 loài được biết).
Sử dụng ảnh vệ tinh kết hợp với những quan sát tại chỗ (in situ) về điều kiện sinh học (thực và động vật Phù du), hóa học (muối dinh dưỡng, chlorophyl) và vật lý (gió, dòng chảy tầng mặt, dòng triều) để có thể cho ra một cảnh báo sớm (early warning) làm giảm thiểu các tác hại của Thủy triều đỏ.
Các đề xuất, kiến nghị về quản lý, giám sát Thủy triều đỏ và tảo độc hại trong môi trường ven bờ, các hải đảo, về chính sách/qui định có liên quan đến sự an toàn chất lượng vệ sinh thực phẩm thuỷ sản, và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.
Phạm vi nghiên cứu

Hình 1: Các trạm thu mẫu trong vùng biển Quảng Trị với khoảng cách ước tính giữa các trạm thu mẫu. Mặt cắt dài khoảng 9,5 km.

Hình 2: Các trạm thu mẫu trong vùng biển ven bờ Bình Thuận. Mỗi mặt cắt dài 10km. Trạm 1 của các mặt cắt được tính từ bờ ở vị trí 0, trạm 4 của các mặt cắt cách vị trí 0 (trạm 1) 10 km.

book

Các bài báo trong năm 2016

  1. Hai Doan-Nhu, Lam Nguyen-Ngoc, Chi-Thoi  Nguyen, 2016. ENSO and  anthropogenic impacts on phytoplankton diversity in tropical coastal waters. Progress in Oceanography, 140: 1-13.
  2. Huỳnh Thị Ngọc Duyên, Nguyễn Thị Mai Anh, Nguyễn Chí Thời, Trần Thị Lê Vân, Phan Tấn Luợm, Nguyễn Ngọc Lâm, Ðoàn Nhu Hải, 2015. Tạp chí Sinh học, 37(4): 446-457.
  3. Phan Tấn Lượm, Nguyễn Ngọc Lâm, Đoàn Như Hải, 2016. Phân loại học phân chi Archaeperidinium thuộc chi Protoperidinium (Dinophyceae) Ở vùng biển Việt Nam. Tạp chí Sinh học. 38(1): 39-52
  4. Phan Tấn Lượm, Nguyễn Ngọc Lâm, Đoàn Như Hải, 2016. Bào tử nghỉ của một số loài thuộc chi Protoperidinium trong trầm tích ven bờ Phú Yên, Khánh Hòa và Ninh Thuận. Tạp chí Sinh học. 39(1): xx-xx. DOI: 10.15625/0866-7160/v39n1.8403
  5. Gusev E., Hai Doan-Nhu, L. Nguyen-Ngoc, Kapustin  D.A., 2016. Two new  species of the genus Mallomonas from  the Cat  Tien  National Park  (Viet Nam): Mallomonas distinguenda and Mallomonas skvortsovii. Phytotaxa 273(1): 059-064. http://dx.doi.org/10.11646/phytotaxa.273.1.6
  6. Phan-Tan L., L. Nguyen-Ngoc, H. Doan-Nhu, 2016. Species diversity of sections conica and tabulata in the genus Protoperidinium (Dinophyceae) from tropical waters of the South China Sea. Nova Hedwigia, online: 2 August 2016, http://dx.doi.org/10.1127/nova_hedwigia/2016/0369
  7. Phan-Tan L., L. Nguyen-Ngoc, H. Doan-Nhu, 2016. Species diversity of the dinoflagellate genus Protoperidinium section Oceanica (Dinophyceae, Peridiniales) in Vietnamese waters, with description of a new species – P. larsenii sp. nov., Nordic Journal of Botany, Online: 12 Sept. 2016. DOI: 10.1111/njb.01230
  8. Loick-Wilde N., D. Bombar, Hai Nhu Doan, Nguyen Thi Mai anh, Lam Ngoc Nguyen, M. Voss, and J.W Dippner. 2016. Submitted to Progress in Oceanography (Accepted with major revision).
  9. Gusev E., Hai Doan-Nhu, L. Nguyen-Ngoc, 2016. Silica-scaled chrysophytes from Cat Tien National Park (Dong Nai Province, Vietnam). NOVA HEDWIGIA (under review)