Untitled-1

Thực vật phù du những số liệu thầm lặng

Những phát hiện mới cho khoa học

Đòan NH

[row]

[column size='1/3'] [caption id="attachment_99" align="aligncenter" width="549"] Loài tảo hai roi mới cho khoa học Protoperidinium larsenii[/caption]

Khi khảo sát mẫu trong vùng biển Rạch Giá, Các nhà nghiên cứu phòng Sinh vật Phù du Biển đã phát hiện một loài tảo mới cho khoa học. Đó là loài Protoperidinium larsenii L. Phan-Tan, L. Nguyen-Ngoc, H. Doan-Nhu 2017. Loài đã được công bố trong tạp chí quốc tế có uy tín thuộc danh mục SCIE, Nordic Journal of Botany trong năm 2017.

Loài mới có tế bào có kích thước trung bình, thân tế bào dạng hình quả lê, dài 77-87 µm, đường kính 55-67 µm và chiều sâu 37-43 µm. Vỏ trên hình nón kéo dài tạo thành sừng ngắn. Vỏ dưới với hai sừng hình nón với gai nhọn, hai sừng gần như song song và khoảng cách giữa chúng hẹp. [/column]

[column size='1/3']Rãnh dọc sâu và lõm vào giữa hai sừng. Khu vực rãnh dọc được viền bằng một màng hình răng cưa. Bề mặt vỏ có cấu trúc lưới với gai nhỏ ở mắt lưới và các lỗ.

Sinh thái và phân bố: P. larsenii được tìm thấy ở ven biển Rạch Giá (Kiên Giang) cả khi triều cao và triều thấp, tại toạ độ: 10°0’26,00”N và 104°56’20,00”E. Nhiệt độ nước và độ mặn ở thời điểm thu mẫu tương ứng với 29 oC và 26 psu.

[/column]

[column size='1/3']Các loài tảo vàng ánh mới cho khoa học

Nghiên cứu ở vùng đất ngập nước của phòng Sinh vật Phù du và Viện Sinh học các thủy vực nội địa I Papanins, Nga đã tìm thấy nhiều loài tảo vàng ánh mới cho khoa học. Năm 2017, chúng tôi xuất bản 2 loài mới là Mallomonas distinguenda E.S. Gusev, H. Doan-Nhu, L. Nguyen-Ngoc & D. Kapustin và Mallomonas skvortsovii E.S. Gusev, H. Doan-Nhu, L. Nguyen-Ngoc & D. Kapustin. Cả hai loài này đều được tìm thấy trong vùng đất ngập nước đầy muỗi và vắt Dak Lua. Những chuyến khảo sát vào mùa mưa đều phải di chuyển hoàn toàn trong nước. Vùng này có độ pH khoảng 5.2, nhiệt độ lúc thu mẫu là 24°C với độ dẫn điện thấp (10 μS cm-1).

Mallomonas skvortsovii được đặt tên theo nhà sinh vật học/tảo học ngưởi Nga Boris V. Skvortsov (1896–1980) vì những đóng góp của ông cho nghiên cứu tảo học. Cả hai loài đều mới tìm được vảy mà chưa tìm thấy tế bào. Tuy nhiên những đặc trưng đặc biệt của vảy đã đủ để mô tả loài mới cho khoa học.

[caption id="attachment_23" align="aligncenter" width="526"] Hình ảnh 2 loài tảo vàng ánh mới cho khoa học M.distinguenda (2 hình đầu) cà M. skvortsovii (hình sau).[/caption]

[/column]

[/row]

640px-south_china_sea-1

A CHANGING RIVER: MEASURING NUTRIENT FLUXES TO THE SOUTH CHINA SEA

If you have ever flown over a coastal area and observed a river meeting the ocean, chances are you have had the opportunity to see a river plume. The patch of distinctly colored water demonstrates the clear continuity of the river flow as it enters the ocean. From this visual, it becomes obvious that rivers dominate the transfer of suspended material from freshwater sources, acting as a primary connector between continents, river-estuary systems, and the ocean.

 

[tabs] [tab title="Responsive" icon="icon-entypo-info"][/tab] [/tabs]

Rivers also carry the signature of our land-based impacts, such as dam construction, land and fertilizer use, increased sewage loading, and mangrove destruction. The biogeochemical impact of river plumes and their role in supplying nutrients to tropical oceans remains poorly understood. The ocean is not an infinite sink for such impacts and more knowledge about how these materials affect the ocean chemically and biologically is needed, as this information can be applied towards coastal management plans and mitigation.

tthaiduonghoc1

10 năm – một chặng đường

Tập thể nghiên cứu Sinh vật phù du biển là đơn vị nghiên cứu khoa học về sinh vật phù du (plankton) được tách ra từ phòng Nguồn lợi thủy sinh. Ngay từ những ngày đầu tiên của năm 1999, với diện tích 12m2 vừa là phòng làm việc vừa là phòng thí nghiệm với 3 cán bộ bao gồm 2 thạc sĩ  và 1 cử nhân, lúc đó tổ trưởng là ThS Nguyễn Ngọc Lâm. Sau 4 năm hoạt động, Viện Hải Dương Học, đã thành lập Phòng Sinh vật phù du Biển theo Quyết định số 34/QD-HDH ngày 28 tháng 03 năm 2003 và giao cho TS. Nguyễn Ngọc Lâm làm trưởng phòng với nhân sự cho đến nay bao gồm 7 biên chế và 1 hợp đồng dài hạn và 1 hợp đồng ngắn hạn, trong đó có 1 GS (TS, NCVCC), 1 PGS (TS, NCVC), 1 TS (NCVC), 3 ThS, 2 CN và 1 Nghiên cứu sinh.

[row]

[column size='1/2']Trong suốt hơn 10 năm qua, với sự quan tâm và ủng hộ của Ban Lãnh đạo Viện Hải dương học, GS. Nguyễn Ngọc Lâm đã cùng tập thể khoa học phát triển không ngừng, Phòng đã đảm nhận nhiều dự án hợp tác Quốc tế nghiên cứu khoa học, đáng kể là: – dự án nghiên cứu Tảo độc hại hợp tác với trường Đại học Copenhagen (1999-2008); dự án nghiên cứu về Khoa học biển hợp tác với các Viện nghiên cứu biển Ban-Tích và Trường Đại học Hamburg, Liên bang Đức (2003-2007); dự án nghiên cứu về Khoa học biển hợp tác với Philipinnes (2005-2007); dự án Biến đổi khí hậu với các trường đại học của Đan Mạch (2009-2012); và mới đây là nhiệm vụ hợp tác với Viện sinh học các thủy vực nội địa Papanin (cấp Viện HLKH và CNVN, 2014-2015). Tập thể phòng cũng đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ khoa học cấp Nhà nước với vai trò là chủ nhiệm nhánh phía nam củia đề tài KC.09.19 (2001-2005) và chủ nhiệm đề tài KC.09-03/06-10. Hiện nay, phòng đang đảm nhận các hợp đồng nghiên cứu khoa học với tỉnh Trà Vinh, Ninh Thuận và đề tài nghiên cứu cơ bản (NAFOSTED).

[caption id="attachment_31" align="aligncenter" width="525"] Thảo luận khoa học với Đan Mạch (ảnh trái) và làm việc trên biển với các nhà khoa học Đức (ảnh phải)[/caption]

[/column]

[column size='1/2']Từ diện tích 12m2 trong năm 1999, sau 5 năm bằng nguồn kinh phí overhead (3 %) tiết kiệm được của dự án nghiên cứu Tảo độc hại, Viện Hải dương học đã xây dựng cho tập thể một cơ sở nghiên cứu gồm tòa nhà 2 tầng với diện tích 400m2 với hầu hết các trang thiết bị nghiên cứu hiện đại và hàng ngàn trang tài liệu, sách có liên quan đến sinh vật phù du nói riêng và khoa học biển nói chung. Tập thể nghiên cứu của phòng Sinh vật phù du là đơn vị tiên phong, đầu ngành nghiên cứu về tảo độc hại và xây dựng được mạng lưới về tảo độc hại nói riêng và nghiên cứu cơ bản về sinh vật phù du trong cả nước nói chung. Nhiều nghiên cứu sinh, các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài như Liên bang Nga, Liên bang Đức, và Đan Mạch, … đã đến trao đổi tài liệu khoa học, sử dụng các trang thiết bị nghiên cứu của phòng và thực hiện các đề tài luận văn tốt nghiệp.

[/column]

[/row]

Cho đến nay, các nhà khoa học của đơn vị được mời tham gia giảng dạy tại các trường đại học KHTN (Tp. Hồ Chí Minh), trường đại học Đà Lạt, và trường Đại học Tây Nguyên. Có 4 nghiên cứu sinh đã hoàn thành luận án Tiến sĩ và 5 NCS đang thực hiện dưới sự hướng dẫn  của các nhà khoa học trong phòng Sinh vật phù du Biển. Tập thể phòng cũng đã hướng dẫn hơn 20 học viên cao học (có 4 học viên nước ngoài) đã bảo vệ thành công học vị Thạc sĩ. Hầu hết các nhà khoa học của phòng đã tham gia các khóa tập huấn ngắn và dài hạn, hội thảo khoa học Quốc tế và đều có thể giao tiếp và làm việc với các nhà khoa học nước ngoài bằng tiếng Anh.

Ngoài nhiệm vụ tham gia đào tạo thường xuyên tại các trường đại học, phòng còn tham gia tổ chức các lớp tập huấn ngắn hạn về sinh học và phân loại vi tảo dành cho các nhà khoa học /giảng viên trẻ từ các trường /viện. Các khóa học tiên tiến về sinh học – hải dương phối hợp với các nhà khoa học Đức (dự án VG 2006), Đan Mạch (2009-2012) và Hoa Kỳ (VEF 2013) cũng được tổ chức tại phòng Sinh vật phù du Biển.

tthaiduonghoc2

Hai nhà khoa học trẻ tập huấn về sinh học – hải dương (bio-oceanography) trên vịnh Aarhus trong chương trình hợp tác với  Đan Mạch, 2009-2012

tthaiduonghoc3

Cơ sở vật chất phòng Sinh vật phù du Biển và các học viên của các khóa tập huấn ngắn hạn

Từ các đề tài /dự án nghiên cứu khoa học, từ năm 2004 đến nay, tập thể phòng đã công bố trong và và ngoài nước khoảng 150 công trình khoa học, trong đó khoảng 40 bài báo trong hệ thống ISI (SCI và SCI-E) và kỷ yếu hội nghị khoa học Quốc tế, 3 sách chuyên khảo Quốc tế và 3 sách chuyên khảo trong nước. Các nhà khoa học của phòng đã công bố 3 loài sinh vật phù du mới cho khoa học bao gồm 2 loài vi tảo hai roi (Dinoflagellates) là Alexandrium gaaderae L. Nguyen-Ngoc & J. Larsen, 2004; A. globosum Lam Nguyen-Ngoc & Jacob Larsen, 2004; và một loài giáp xác chân chèo (Copepoda) là Tortanus (Atortus) vietnamicus Shuhei Nishida a& Cho Nguyen, 2005. Gần 100 loài sinh vật phù du mới được ghi nhận lần đầu ở Việt Nam đã và đang được mô tả.

Từ những thành quả đào tạo và nghiên cứu khoa học nêu trên, tập thể phòng Sinh vật phù du đã được Chủ tịch Đặng Vũ Minh cấp bằng khen vào năm 2007, Chủ tịch Châu Văn Minh cấp bằng khen cho GS. Nguyễn Ngọc Lâm vào năm 2010 do có thành tích xuất sắc trong hợp tác với Philippines, các viên chức của phòng trong nhiều năm liền hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc và là Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở. PGS. TS. Đoàn Như Hải được các nhà khoa học Hoa Kỳ mời tham gia khảo sát Nam cực và được Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF), Hoa Kỳ tặng bằng khen do hoàn thành tốt nhiệm vụ nghiên cứu.

Tháng 5/2012, phòng sinh vật phù du được chọn và có tên trong danh sách là một trong những tập thể mạnh của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Nguồn tin: GS. TS. Nguyễn Ngọc Lâm – Viện Hải dương học

2016-Gusev et al

Phát hiện loài vi tảo mới cho khoa học

Trong khuôn khổ nhiệm vụ “Đa dạng tảo Vàng ánh (Chrysophyceae và Synurophyceae) ở Việt Nam: những vấn đề về hình thái học và di truyền họchợp tác giữa Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Quỹ Nghiên cứu cơ bản Nga, từ giữa năm 2014, các nhà khoa học của Viện Hải dương học và Viện Sinh học các thủy vực nội đồng đã thực hiện các đợt khảo sát ở Nam Cát Tiên (Đồng Nai), Cam Ranh, Nha Trang (Khánh Hòa), Phan Thiết (Bình Thuận), Ba Bể (Bắc Kạn) và Hà Nội.